15/03/2026
Thiết bị trị liệu bằng ánh sáng đỏ hoạt động dựa trên việc sử dụng ánh sáng đỏ cường độ cao, có dải bước sóng hẹp, khoảng 640nm. Loại ánh sáng này có khả năng xuyên qua bề mặt da, đi vào sâu bên trong và được các ty thể (nhà máy năng lượng của tế bào) hấp thụ. Từ đó, nó thúc đẩy quá trình tổng hợp ATP (phân tử mang năng lượng chính của tế bào) và kích hoạt quá trình trao đổi chất của tế bào. Nhờ cơ chế này, thiết bị mang lại hiệu quả chống viêm, giảm đau và thúc đẩy quá trình phục hồi các tổn thương. Thiết bị sử dụng nguồn sáng bán dẫn thể rắn đạt tiêu chuẩn y tế, đảm bảo năng lượng đầu ra luôn ổn định. Kết hợp với thiết kế đầu đèn chiếu ba chiều linh hoạt và hệ thống kiểm soát nhiệt độ thông minh, thiết bị đảm bảo quá trình điều trị diễn ra an toàn và hiệu quả.
Cốt lõi của liệu pháp ánh sáng đỏ nằm ở khả năng điều hòa sinh học đối với các tế bào, thể hiện qua những tác động sau:
Thúc đẩy tổng hợp năng lượng: Sau khi được ty thể hấp thụ, ánh sáng đỏ 640nm giúp tăng cường đáng kể việc sản xuất ATP, từ đó nâng cao hoạt động sống của tế bào.
Đẩy nhanh quá trình phục hồi mô: Kích thích các nguyên bào sợi (tế bào chính tạo nên mô liên kết) phát triển và sản sinh collagen, thúc đẩy sự hình thành mô hạt (mô mới trong giai đoạn lành vết thương), từ đó tăng tốc quá trình liền vết thương.
Cải thiện vi tuần hoàn: Ánh sáng đỏ giúp làm giãn các mạch máu nhỏ tại chỗ, tăng tốc độ dòng máu lưu thông. Nhờ đó, oxy và chất dinh dưỡng được vận chuyển đến vùng tổn thương hiệu quả hơn, đồng thời hỗ trợ hấp thụ các chất gây viêm và loại bỏ các chất thải từ quá trình trao đổi chất.
Điều hòa chức năng miễn dịch: Tăng cường hoạt động của các tế bào thực bào (tế bào "ăn" các tác nhân lạ), cải thiện khả năng miễn dịch tại chỗ, hỗ trợ cơ thể loại bỏ các tác nhân gây nhiễm trùng.
Điều chỉnh độ sâu điều trị linh hoạt 0-44mm: Tính năng này cho phép các chuyên viên trị liệu dễ dàng kiểm soát và điều chỉnh phác đồ điều trị một cách tối ưu.

Thiết bị được sử dụng trong điều trị các vấn đề sức khỏe thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau:
Da liễu
Mụn trứng cá, chàm (eczema), zona thần kinh và chứng đau dây thần kinh sau zona.
Loét da, loét tì đè (nằm lâu ngày do bất động), viêm quanh móng, viêm quầng,...
Ngoại khoa và Chấn thương chỉnh hình
Vết bỏng, vết mổ chậm lành sau phẫu thuật, hoại tử mỡ (mô mỡ chết sau chấn thương hoặc phẫu thuật).
Gãy xương chậm liền, dập cơ, viêm quanh khớp vai, thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng,...
Sản phụ khoa
Vết mổ đẻ lâu lành, viêm tuyến vú, viêm vùng chậu, viêm phần phụ, đau bụng kinh,...
Phục hồi chức năng và Giảm đau
Các chấn thương phần mềm mạn tính, viêm khớp, thoái hóa đốt sống cổ, viêm lồi cầu (khuỷu tay tennis) và các tình trạng đau khác.
Các chuyên khoa khác
Hỗ trợ điều trị các vết thương khó lành như loét bàn chân do đái tháo đường (Chuyên khoa Nội tiết), vết thương do xạ trị (Chuyên khoa Ung bướu), loét tì đè (Hồi sức tích cực - ICU).
Phân tích đầy đủ về nguyên lý và hiệu quả của liệu pháp ánh sáng đỏ.
Không sử dụng thiết bị cho các trường hợp sau:
Phụ nữ đang mang thai.
Người mắc các bệnh về mắt hoặc bệnh lý võng mạc.
Người có cơ địa nhạy cảm với ánh sáng hoặc mắc bệnh lý mẫn cảm với ánh sáng.
Người có xu hướng chảy máu hoặc rối loạn đông máu.
Người mắc bệnh tim hoặc đang sử dụng máy tạo nhịp tim (pacemaker).
Người mắc bệnh ung thư ác tính.
Người đang bị sốt cao hoặc nhiễm trùng cấp tính.
(và các trường hợp chống chỉ định khác)
Tác giả: Đông Á